Phong tuc le cuoi cung dinh Nguyen

Dù là tần lớp nhân dân lao động và giai cấp quan lại nhỏ ở các triều đại phong kiến, nhưng tục lệ cưới hỏi của người Việt xưa đã rất phong phú, đa dạng với nhiều lễ tục độc đáo.

Tuy nhiên, những tục lệ này khác xa với tầng lớp vua chúa. Mỗi triều đại phong kiến, mỗi ông vua trị vì đều có tục lệ cưới hỏi riêng, cực kỳ phiền phức và tốn kém, có khi phải hy sinh hàng trăm mạng dân lành để chút lấy một ngày vui cho các hoàng tử, công chúa. Đặc biệt tục cưới hỏi dưới triều nhà Nguyễn, tuy phần nhiều giống với tục cưới gả của Trung Hoa, nhưng với đặc điểm sinh hoạt của cung đình và sự độc đáo của nền văn hoá dân tộc mà các tục lệ này cũng được thay đổi ít nhiều, làm nên những đám cưới hoàng cung xa hoa, lộng lẫy một thời.

Đám cưới Hoàng tử

Hoàng tử lấy vợ gọi là Nạp phi. Thường khi hoàng tử đã xuất phủ thì vua mới nghĩ đến việc cưới vợ cho con. Trước ngày nạp lễ, có một buổi thiết triều ở điện Cần Chánh để vua truyền cho biết ngày giờ hôn lễ và cử các quan vào trong ban phụ trách việc hôn lễ này. Hai quan chánh, phó sứ cầm mao tiết và bưng tráp thiếp đến nhà gọi là Văn Võ Công Thự.

Ở đây, lễ vật được đặt sẵn trên các án sơn son thếp vàng bao gồm: hai thỏi vàng ròng, hai mươi cây vải tốt, một đôi xuyến, một đôi hoa tai, một bộ trâm vàng, hai chuỗi hạt châu quý. Ngoài ra, còn mang theo một con trâu, một con bò và một con heo sữa. Các con vật này bắt buộc phải sơn màu đỏ, ngay cả cái cũi và sợi dây buộc. Đoàn người đến họ nhà gái gồm có quan chánh, phó sứ, vài vị đại thần cùng phu nhân và bầu đoàn thê tử gánh lễ vật. Đến nơi, tất cả phẩm vật đều để lên bàn. Riêng trâu, bò, heo bỏ trong cũi để ngoài sân.

Quan chánh sứ đứng bên tả hương án, quan phó sứ đứng bên hữu. Thân phụ và thân mẫu cô dâu đứng trước án; sau đó theo lời phán của viên quan Bộ lễ họ đồng lạy năm lạy và cung kính nhận lễ vật mà họ đằng trai (con vua) mang đến. Lễ Nạp Thái xong, các nghĩ lễ khác tiếp tục theo tuần tự. Nhưng quan trọng hơn cả là lễ Phát sách trước khi cô dâu từ giã cha mẹ họ hàng để về nhà chồng. Lễ Phát sách, tức lễ mà vua ban cho cô dâu một cuốn sách bằng vàng về cuộc hôn phối đó; đồng thời ghi lý lịch của hai người, sắm cho áo mũ, giày và kiệu… Quan Chánh sứ cầm mao viết, quan phó sứ bưng tráp được chạm trổ tinh vi để đựng kim sách, còn các người khác thì chỉ được bưng lễ vật.

Ở nhà cha mẹ cô dâu đã bày sẵn hương án để đặt kim sách. Đọc xong, nữ quan giao kim sách cho cô dâu. Cô dâu cúi đầu nhận kim sách một cách cung kính, trang trọng bằng cách đưa lên ngang trán và giao lại cho một nữ quan khác đặt lên hương án như cũ. Họ mời vợ hoàng tử ngồi vào ghế, các bà mệnh phụ, thị nữ sắp hàng lạy mừng cô dâu bốn lạy. Lễ xong, một bữa tiệc được nhà gái bày ra để khoản đãi những người tham dự , sau đó rước cô dâu về phủ của hoàng tử. Hôm sau, cha mẹ của cô dâu phải vào cung để làm lễ tạ ơn vua và hoàng hậu.

Đám cưới hoàng tử hoàn tất, nếu hoàng tử chung tình thì cọi như mọi nghi lễ phiền toái đó chấm dứt, nếu chàng muốn cưới nàng hầu thì nghi lễ lại quay vòng như từ đầu.

Lễ cưới công chúa

Công chúa đến tuổi lấy chồng thường gọi là Hạ giá, con rể tương lai của nhà vua được gọi là Phò mã. Tuy nhiên, việc chọn phò mã phải hết sức cẩn trọng. Khi công chúa đến 16 tuổi, vua sai Bộ lại, Bộ binh lập danh sách con cháu và chắt các công thần hạng nhất, tiếp đến nhị phẩm. Những chàng trai này tất nhiên là không bị tàn tật, nhưng phải thông minh và đẹp.

Chọn được phò mã rồi, vua mới cử một người làm chủ hôn, một đại thần làm chiếu liệu, đứng ra lo việc đám cưới. Theo tục lệ thì “gái hơn hai, trai hơn một” là tốt đẹp. So với đám cưới hoàng tử thì đám cưới công chúa phiền toái, nhiêu khê hơn nhiều. Bởi vì lần này người có con được vua chọn làm phò mã là một sự vinh hiển không ai bằng, sau đó cha mẹ chàng lại được nhiều ân sủng của vua và hoàng hậu ban cho. Đấy là chưa kể phò mã nếu được vua ưng ý sẽ được phong quan tiến chức. Lễ cưới công chúa gồm có sáu lễ, cứ mỗi ngày cử hành hai lễ, cách quãng nhau.

Ngày thứ nhất: Gồm có lễ Nạp thái và Lễ Vấn danh. Trong ngày này, gia đình phò mã sẽ đưa lễ vật vào cung gồm một con trâu, một con lợn, hai mâm trầu cau, hai vò rượu ngon, hai cây nấm, mười tấm lụa, bốn thỏi vàng, một đôi bông vàng, một mâm vàng, chuỗi ngọc và 16 thỏi bạc. Sau đó có thêm hai con trâu, hai con lợn và hai vò rượu.

Ngày thứ hai gồm lễ Nạp trưng, lễ Nạp cát. Các lễ vật ở ngày thứ hai tương tự như lễ vật ở ngày thứ nhất.

Ngày thứ ba là ngày quan trọng nhất. Gồm lễ Điện nhạn và lễ Thân nghinh. Lễ vật trong lễ Điện nhạn gồm hai hộp chỉ ngũ sắc, một trăm đồng tiền, hai con ngỗng nhốt trong hai cái lồng đều có dây đỏ buộc liền nhau chỉ sự thuỷ chung. Còn một trăm đồng và hộp chỉ ngũ sắc tượng trưng cho sự giàu sang thịnh vượng, con đàn, cháu đống.

Trong lễ Thân nghinh, hai ông bà chiếu liệu đến phủ đệ phò mã, hai viên quan văn, hai viên quan võ cùng phu nhân chỉnh tề lọng võng đợi dẫn dâu về. Bộ binh phái ba trăm lính nhung phục cầm cờ quạt, nghi trượng đứng trực ở cửa cung. Phò mã mặc lễ phục vào lạy vua xin được đón công chúa. Vua ban mấy lời giáo huấn, còn phò mã thì phải ngồi đợi tại một gian phòng bốn bên màn che sáo phủ. Công chúa đội mũ phượng, mặc áo bào bằng bát ty màu đỏ, thêu hoa tròn và chim phượng xiêm bằng đoạn bát ty màu đỏ, thêu hoa tròn và chim phượng, đi hài màu đỏ thêu phượng theo nữ quan dẫn đến hầu vua cha và mẫu hậu để nghe những lời giáo huấn. Kiệu hoa dừng trước cửa Tả đoạn chung quanh che rèm. Công chúa bước ra đã có phò mã chờ sẵn bên kiệu, tự tay vén màn mời công chúa bước lên.

Ra khỏi hoàng thành, phò mã mới được phép lên kiệu. Phò mã cưỡi ngựa che hai lọng, lính hầu bê tráp đi trước dẫn đường, rồi đến ba trăm binh sĩ cầm cờ quạt, nghi trượng và phường nhạc theo sau. Bên kiệu công chúa có sáu nữ quan và các thị nữ mặc áo mã tiên, hai người cầm lồng đèn thắp nến, hai người cầm cành thiên tuế, hai người ôm lồng ngỗng, bốn người bưng tráp trầu và hộp hương. Công chúa được mời vào phòng khách, ngồi theo thứ tự. Nhà trai bắt đầu bày tiệc khoản đãi…

Phò mã cũng công chúa vào lễ ở bàn thờ lễ Tơ hồng. Phò mã dự lễ hợp cẩn. Hai người ăn chung mâm cỗ tơ hồng và uống rượu trong hai cái chén được làm bằng hai nửa của cùng một quả bầu. Hôm sau đến lượt công chúa ra mắt cha mẹ chồng. Công chúa đứng lạy phía tây lạy bốn lạy. Cha mẹ chồng đứng ở phía đông, đáp lại hai vái.

Ngày thứ 3, hai vợ chồng đến từ đường làm lễ tổ tiên. Mỗi người lạy bốn lạy, hai vái. Ngày thứ chín, hai vợ chồng vào chầu vua. Phò mã được vua ban cho một bộ triều phục tam phẩm, hai áo gấm, hai bộ yên ngựa. Phò mã lạy tạ năm lạy. Sau đó, hai vợ chồng vào cung lạy chào hoàng hậu và hoàng thái hậu. Hồi môn của công chúa được cấp lớn nhỏ tuỳ theo vua. Phò mã đô uý là chức đầu tiên của chồng công chúa, chỉ việc ngồi không ăn lương; dự yến tiệc trong ngày lễ, hoặc theo vua đi hầu các nơi.

Nếu trong nước có xảy ra đại sự và tuỳ theo tài năng của phò mã mà vua ban thưởng cho các chức sắc để phò vua dựng nước.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: